Xem truyện ngắn Cô giáo Lệ
So với trận hải chiến Hoàng Sa, thì trận cưỡng đoạt Trường Sa
năm 1988 được chuẩn bị và toan tính kỹ hơn, Trung Quốc chọn đúng thời
điểm tình hình Việt Nam đang gặp khó khăn.
Rắp tâm của Trung Quốc
Ngày 30/4/1975, chính
quyền Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, đất nước Việt Nam liền một mối, bước
vào giai đoạn tái thiết, tổ chức thống nhất hai miền Nam - Bắc.
Dù
bộn bề với bao việc phải làm sau chiến tranh, vấn đề bảo vệ chủ quyền
với Hoàng Sa vẫn được đặt lên hàng đầu và được quan tâm đặc biệt.
Ngày
9/9/1975, tại Hội nghị Khí tượng Á châu ở Colombo, đại diện Chính phủ
Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam yêu cầu giữ nguyên đăng ký
vào hệ thống SYNOP của OMM đài khí tượng của Việt Nam đặt tại quần đảo
Hoàng Sa dưới danh số 48860.
Ngày 24/9/1975, tại cuộc gặp gỡ phái đoàn của Đảng và Nhà nước
Việt Nam do Tổng bí thư Lê Duẩn dẫn đầu, ông Đặng Tiểu Bình lúc này là
phó chủ tịch Đảng Cộng sản kiêm phó thủ tướng Trung Quốc thừa nhận giữa
hai nước còn tồn tại vấn đề Tây Sa và Nam Sa (tức Hoàng Sa và Trường
Sa). Đặng Tiểu Bình hứa hẹn: “ Vấn đề sẽ được đưa ra giải quyết trong
tương lai”.
Ngày 10/11/1975, Bộ ngoại giao Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa gửi đến Bộ Ngoại giao Trung Quốc công hàm nhắc lại tuyên bố
ngày 24/9 của Đặng Tiểu Bình và đề nghị ngưng tuyên truyền liên quan đến
tranh chấp về các quần đảo nhằm tạo không khí thuận lợi cho việc thương
thảo.
Tuy nhiên trong công hàm trả lời ngày 24/12/1975, Bộ ngoại giao Trung Quốc bác bỏ đề nghị này.
Ngày
3/12/1975, Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Bắc Kinh khẳng định với
Bộ trưởng Bộ ngoại giao Trung Quốc chủ quyền của Việt Nam trên hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 5/6/1976, người phát ngôn Bộ
Ngoại giao cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố Việt Nam sẽ giành quyền
bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 2/7/1976, sau cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước, nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính thức ra đời.
Ngày
12/5/1977, nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố Tuyên
ngôn về vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam, trong đó nhấn mạnh đến
chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày
7/10/1977, Việt Nam và Trung Quốc có cuộc họp đàm phán về biên giới.
Trưởng đoàn Việt Nam Phan Hiền đề nghị đăng ký thảo luận về quần đảo
Hoàng Sa đang bị Trung Quốc chiếm giữ từ năm 1974, trưởng đoàn đàm phán
Trung Quốc Hàn Niệm Long từ chối.
Tháng 9 và tháng 10 năm 1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng lần lượt đi
thăm hai nước Philipines và Malaysia, ký thỏa thuận với Tổng thống và
Thủ tướng hai nước để giải quyết các tranh chấp trên biển Đông bằng biện
pháp hòa bình.
Giai đoạn này quan hệ giữa hai nước ngày càng căng thẳng. Trung
Quốc từ chỗ thừa nhận Hoàng Sa là “vấn đề tranh chấp” sang hẳn luận điểm
“Hoàng Sa là của Trung Quốc, không cần tranh cãi”.
Ngày
17/2/1979, Trung Quốc đưa 600.000 quân tấn công vào 6 tỉnh biên giới
phía Bắc Việt Nam. Sau hai tuần bị thiệt hại nặng nề, Trung Quốc rút
quân.
Ngày 15/3/1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách trắng
về biên giới Việt – Trung, trong đó bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa.
Ngày 3/7/1979, cơ quan hàng không dân dụng Trung Quốc
thiết lập 4 vùng nguy hiểm trong không phận Tây Sa (tức Hoàng Sa) với ý
đồ buộc quốc tế phải thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa.
Ngày 7/8/1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố bác bỏ hoàn toàn ý đồ xuyên tạc của Trung Quốc.
Ngày 8/9/1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố tài liệu xác minh chủ
quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 25/3/1980, Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên đảo An Bang cũng như quần đảo Trường Sa.
Ngày 4/2/1982, chính phủ Việt Nam thành lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.
Ngày
9/12/1982, chính phủ Việt Nam lập huyện Trường Sa. Đến ngày 28 tháng 12
năm 1982, chính phủ Việt Nam quyết định huyện Trường Sa được nhập vào
tỉnh Phú Khánh.
Năm 1984, Bộ Ngoại giao Việt Nam phản đối Trung
Quốc tuyên bố thành lập vùng hành chính tỉnh Hải Nam bao gồm Hoàng Sa và
Trường Sa của Việt Nam.
Từ ngày 16/5 đến 6/6/1987, hải quân
Trung Quốc thao diễn trong vùng tây Thái Bình Dương và Nam biển Đông,
gần quần đảo Trường Sa.
Ngày 10/11/1987, hải quân Trung Quốc đổ bộ lên chiếm đảo Louisa trên quần đảo Trường Sa…
Trung Quốc chọn thời điểm
Nhiều
tài liệu, bài báo gọi sự kiện Trung Quốc dùng tàu chiến, pháo hạm quân
sự tấn công ngày 14/3/1988 là “cuộc hải chiến Trường Sa”. Tuy nhiên,
chuẩn đề đốc Lê Kế Lâm và một số học giả quốc tế nghiên cứu về biển Đông
cho rằng, gọi là “hải chiến” hoàn toàn không chính xác. Bởi khi đó, lực
lượng của Việt Nam trên các đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma là công binh,
không có vũ khí. Và các tàu của Việt Nam làm nhiệm vụ trong khu vực là
tàu vận tải, không có vũ khí.
Trung Quốc đã sử dụng vũ khí từ súng và pháo trên các tàu chiến bắn vào bộ đội công binh và tàu vận tải của Việt Nam.
Theo tài liệu giải mật của cơ quan tình báo trung ương Hoa Kỳ
(CIA), Trung Quốc đã chọn thời điểm dư luận thế giới đang tập trung vào
giải pháp chính trị ở Campuchia. Liên Xô, đồng minh quan trọng của Việt
Nam đang sa lầy ở Apganistan, đang nối lại quan hệ với Trung Quốc nên
không muốn dính líu rắc rối gì với Trung Quốc.
Trước khi ra tay
hành động, một đoàn ngoại giao Trung Quốc đã đến các nước có liên quan
đến biển Đông khẳng định “lập trường hòa bình” và tuyên bố Trung Quốc
chỉ “tranh chấp” đảo với Việt Nam, Trung Quốc không hề có “tranh chấp”
nào khác với các nước khác!
Đầu năm 1988, lần đầu tiên hải quân
Trung Quốc tới một số đảo trên quần đảo Trường Sa. Cụ thể, ngày
31/1/1988 chiếm bãi đá Chữ Thập; ngày 18/2/1988 chiếm bãi Châu Viên;
ngày 26/2/1988 chiếm bãi Ga Ven; ngày 28/2 chiếm bãi Tư Nghĩa.
Trước
tình hình Trung Quốc chiếm đóng hàng loạt đảo trên Trường Sa, Việt Nam
đã khẳng định chủ quyền trên các đảo còn lại trên các đảo Gạc Ma, Cô
Lin, Len Đao.
Trung Quốc, sau khi chiếm hàng loạt đảo, đầu tháng
3/1988 đã huy động lực lượng của hai hạm đội tiếp tục mở rộng lấn chiếm,
tăng số tàu chiến từ 9 lên 12 tàu gồm 1 tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ
vệ tên lửa, 2 tàu hộ pháo, 2 tàu đổ bộ, 3 tàu vận tải hỗ trợ LSM, tàu
kéo và 1 pông tông lớn.
Sáng ngày 14/3/1988, 4 tàu chiến Trung
Quốc tiến đến bãi Gạc Ma. 6 giờ sáng Trung Quốc đổ bộ 40 quân lên đảo,
xông lên giật cờ Việt Nam cắm trên đảo. Các chiến sĩ hải quân Việt Nam
đang bảo vệ cờ Tổ quốc đã bị đâm bằng lưỡi lê và bắn chết gồm hạ sĩ
Nguyễn Văn Lanh, thiếu úy Trần Văn Phương…
Lực lượng công binh,
hải quân dù tay không vẫn cương quyết bảo vệ cờ. Trung Quốc đã huy động
hai chiến hạm bắn thẳng vào lực lượng bảo vệ đảo và tàu vận tải 604 đang
neo đậu. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và một số chiến sĩ đã anh dũng hy
sinh. Tàu 604 bị chìm.
Tại đảo Cô Lin (cách Gạc Ma 3,5 hải lý) và
Len Đao, Trung Quốc tấn công quyết liệt ngay từ 6 giờ sáng ngày 14/3,
bắn cháy tàu HQ 505 và sát hại nhiều chiến sĩ đang giữ đảo. Ở hướng Len
Đao, 8 giờ 20 phút ngày 14/3, tàu chiến Trung Quốc bắn cháy tàu HQ 605
của Việt Nam.
Cuộc thảm sát kéo dài 28 phút đã gây thiệt hại
nặng cho Việt Nam, 3 tàu bị bắn cháy và chìm, 3 chiến sĩ hy sinh, 11
chiến sĩ bị thương và 74 chiến sĩ mất tích. Sau này Trung Quốc trả lại 9
chiến sĩ bị bắt. Số còn lại được xem là đã hy sinh.
Việt Nam đã
phản đối gay gắt. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn tiếp tục mở rộng không ngừng
lấn chiếm thêm một số đảo nữa sau đó và huy động nhiều tàu đánh cá từ
Quảng Châu đến hoạt động khai thác tại ngư trường Trường Sa.
Ngày
28/ 4/1990, Bộ Ngoại Giao Việt Nam gửi công hàm cho đại sứ quán Trung
Quốc tại Hà Nội, phản đối việc Trung Quốc đã cho quân lính xâm chiếm bãi
Én Đất trên quần đảo Trường Sa.
Tháng 8/1990, Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng đề nghị tiến hành khai thác chung khu vực quần đảo Trường Sa.
Ngày
1/12/1990 trong cuộc đi thăm Philippines, Thủ tướng Lý Bằng nói: “Chúng
ta có thể tìm ra một giải pháp thích hợp đối với vấn đề Trường Sa với
các bên hữu quan vào lúc thích hợp, nếu không phải là vào lúc này. Tôi
nghĩ chúng ta có thể gác lại vấn đề này và không để nó gây trở ngại
trong quan hệ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng hữu quan”.
Như
vậy, Hoàng Sa và Trường Sa của VN bị mất trong hai giai đoạn mà về danh
nghĩa chính quyền quản lý đang là đồng minh của một trong hai siêu
cường lớn nhất của thế kỷ 20. Các siêu cường đồng minh đều “bắt tay” với
TQ để cho TQ ra tay thô bạo, thậm chí vô cùng tàn bạo như trên bãi Gạc
Ma.
Tháng 3/2013, mạng Sina.com mở chuyên đề “Chiến đấu bảo vệ
chủ quyền” ca ngợi quân đội Trung Quốc đã biết “nắm bắt thời cơ” để “đập
tan sự ngỗ ngược của Việt Nam”. Dẫn lời tướng Nhạc Cương, Sina.com mạnh
miệng tuyên bố: “Các cuộc đụng độ giữa Trung Quốc và Việt Nam cho thấy
xu hướng không can thiệp của các nước lớn khi quyền lợi của họ không bị
đụng chạm. Trung Quốc cần phải tận dụng và phát huy!”.
(Còn nữa)
Duy Chiến
*Bài có sử dụng tư liệu nghiên cứu của tiến sĩ Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, người sáng lập và cố vấn Quỹ Văn hóa Giáo dục tại TP.HCM.
|
Xem truyện ngắn Cô giáo Lệ |


0 nhận xét Blogger 0 Facebook
Post a Comment